ẢNH HƯỞNG CỦA TINH BỘT GỪNG ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG GAN NHIỄM MỠ (P1)
PHẦN 1: Gan nhiễm mỡ không do bia rượu:
Gan nhiễm mỡ không do bia rượu thường có mối liên hệ chặt chẽ với béo phì, rối loạn chuyển hóa lipid, đái tháo đường type II và tăng huyết áp. Trong đó, tỉ lệ nhóm người bị gan nhiễm mỡ do béo phì chiếm tỉ lệ cao nhất. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng chế độ ăn chứa nhiều calo, giàu chất béo bão hòa có thể dẫn đến tích trữ chất béo dư thừa, gây ra phì đại tế bào mô mỡ. Trong quá trình trao đổi chất, các axit béo tự do sẽ được giải phóng vào gan, kích thích sự biểu hiện của các yếu tố quan trọng có vai trò trong thúc đẩy sự tổng hợp lipid ở gan.
Sinh lý bệnh của gan nhiễm mỡ không do rượu gồm hai giai đoạn:
Sự tích tụ của chất béo trong tế bào gan, hậu quả là gan nhiễm mỡ ở giai đoạn đầu tiên.
Tổn thương gan hoặc gây ra viêm gan nhiễm mỡ không do rượu ở giai đoạn thứ hai.
Kháng insulin đóng vai trò trung tâm trong cả hai giai đoạn của quá trình sinh lý bệnh. Trong khí, stress oxy hóa và các cytokine tiền viêm là một trong những yếu tố thúc đầy quan trọng của giai đoạn thứ hai.
Tiềm năng của Gừng chống lại các bất thường sinh hóa liên quan đến cơ chế bệnh sinh của gan nhiễm mỡ không do rượu:
Như đã đề cập ở trên, kháng insulin là một đặc điểm phổ biến ở những người mắc gan nhiễm mỡ không do rượu. Do đó, tăng độ nhạy với insulin là một cơ chế quan trọng chống lại gan nhiễm mỡ không do rượu. Một báo cáo sơ bộ vào năm 2004 của nhà khoa học đến từ Iran đã báo cáo rằng độ nhạy insulin đối với các tế bào mỡ có thể được cải thiện bằng cách sử dụng gừng.
Các cytokine tiền viêm đặc biệt là TNF-α đóng vai trò quan trọng thúc đẩy quá trình gan nhiễm mỡ. Do đó, việc điều chỉnh cytokine TNF-α là một cách tiếp cận tiềm năng để cải thiện những tổn thương ở gan. Gừng được coi là có hiệu quả cho mục đích này vì một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng gừng và các thành phần có hoạt tính sinh học của nó có thể làm giảm biểu hiện TNF-α. Hơn nữa, trong một nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản năm 2008 đã phát hiện ra rằng cả 6-gingerol và 6-shogaol trong gừng đều có thể ức chế đáng kể TNF-α từ đó điều hòa tăng sự biểu hiện của adiponectin (một polypeptid tham gia vào quá trình chuyển hóa lipid, cải thiện tình trạng kháng insulin và giảm tích tụ chất béo trong tế bào gan).
Cùng với các cytokine, stress oxy hóa cũng đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn thứ hai của gan nhiễm mỡ không do rượu, làm trung gian cho sự tiến triển của gan nhiễm mỡ thành viêm gan nhiễm mỡ. Gừng từ lâu đã được biết đến với khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ. Các hợp chất sinh học trong gừng có thể trung hòa các gốc tự do do stress oxy hóa sản sinh, ức chế quá trình peroxy hóa lipid. Ngoài ra, trong những nghiên cứu năm 2007 của các nhà khoa học Ấn Độ còn cho thấy gừng bảo vệ gan chống lại các tác nhân gây độc cho gan bằng cách tăng cường hoạt động chống oxy hóa của gan.