ĐẶC TÍNH NGĂN NGỪA UNG THƯ CỦA TINH BỘT GỪNG

 Trong một đánh giá ngắn gọn năm 2006 của các nhà khoa học Ấn Độ đã cho thấy gừng và các hợp chất của nó có hoạt tính chống oxy hoá, chống viêm cực mạnh được ứng dụng vào đặc tính ung thư siêu hiệu quả trong quá trình sinh ung thực nghiệm. Các đặc tính chống ung thư của gừng được cho là do sự hiện diện của của một số vanilloid cay nồng như gingerol, shogaol, paradol…

 

UNG THƯ ĐƯỜNG TIÊU HÓA

Một báo cáo liên quan đến hoạt động ngăn ngừa hoá học đường ruột của gingerol được đánh giá trên mô hình chuột thí nghiệm. Các nhà khoa học chỉ ra rằng gingerol làm giảm đáng kể sự ảnh hưởng của chất gây ung thư ở đường ruột.

Các nghiên cứu về đặc tính bảo vệ tế bào và chống loét dạ dày của gừng đã được thực hiện trên chuột bạch tạng bằng cách sử dụng 80% ethanol, 0,6M HCl, 0,2 M NaOH và 25% NaCl để phá huỷ tế bào (al-Yahya et al., 1989). Kết quả của nghiên cứu này đã chứng minh rằng chiết xuất gừng có tác dụng bảo vệ tế bào đối với các tổn thương dạ dày. Các nhà khoa học Trung Quốc đã sử dụng các mô hình loét dạ dày thực nghiệm khác nhau với nước sắc gừng khô và rang, dùng bằng đường uống và phát hiện ra rằng gừng rang có xu hướng ức chế rõ ràng chống lại tổn thương dạ dày (Wu và cộng sự, 1990). Trong một nghiên cứu, Yoshikawa và đồng nghiệp của ông ở Nhật Bản (1994) đã xác định được một hợp chất mới [6]-ginger sulfonic acid trong chiết xuất gừng, được phát hiện là có hiệu quả trong việc ngăn ngừa loét trên mô hình chuột thí nghiệm.
Những tác dụng bảo vệ này đối với niêm mạc dạ dày dường như liên quan đến việc tăng sức đề kháng của niêm mạc hoặc tăng cường một số yếu tố hoặc cơ chế phòng thủ chống lại các hóa chất độc hại.

UNG THƯ RUỘT KẾT

Gingerol cũng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư đại trực tràng ở người (Bode, 2003). Tác giả tuyên bố rằng các hợp chất gừng có thể là tác nhân hóa trị liệu liệu hiệu quả đối với ung thư biểu mô đại trực tràng. Trong thí nghiệm đầu tiên của ông, chuột được cho ăn gừng trước và sau khi tiêm tế bào khối u. Trong loạt thí nghiệm thứ hai, gừng chỉ được cho ăn sau khi khối u trong chúng đã phát triển đến một kích thước nhất định. Hiệu quả của gừng có tác dụng đáng kể trong cả hai trường hợp. Trong một nghiên cứu khác, tiềm năng thay đổi của nó đối với quá trình sinh ung thư ruột kết gây ra bởi 1, 2-dimethylhydrazine (DMH) đã được nghiên cứu trên chuột của Dias et al. (2006). Kết quả cho thấy rằng việc ăn gừng trong chế độ ăn uống không làm thay đổi đáng kể các chỉ số tăng sinh hoặc chết theo chương trình của các tế bào mật ruột kết.
Tác dụng của gừng đối với giai đoạn bắt đầu và sau khi bắt đầu quá trình gây ung thư ruột kết do DMH gây ra ở chuột đực đã được nghiên cứu bởi Manju và Nalini (2005), trong đó kết quả cho thấy tỷ lệ mắc khối u thấp hơn. Các nhà nghiên cứu cùng nhóm đã kết luận thêm rằng việc bổ sung gừng đã ngăn chặn quá trình gây ung thư ruột kết bằng cách giảm quá trình peroxy hóa lipid và tăng cường đáng kể mức độ chống oxy hóa enzyme và không enzyme.
Công trình nghiên cứu gốc và link tham khảo:
(Link: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S027869150600322X)

TIỀM NĂNG CHỐNG UNG THƯ CỦA 6-SHOGAOL

Trong một bài báo nghiên cứu của các nhà khoa học Mĩ năm 2013 cho thấy 6-shogaol trong gừng có khả năng ngăn chặn sự phát triển của ung thư bằng cách kích thích quá trình tự chết của tế bào (apoptosis), ngăn chặn sự phát triển của tế bào (inhibition of proliferation) và ức chế quá trình tự phá huỷ tế bào (autophagy). Nghiên cứu chỉ ra rằng, 6-shogaol tác động đến nhiều con đường tín hiệu tế bào khác nhau: NF-κB, PI3K-Akt, MAPK…

Điều đặc biệt là các chất trung gian của 6-shogaol trong quá trình chuyển hoá cũng có tác dụng chống ung thư và giữ nguyên tính chất hoạt tính trong các tế bào ung thư. Bên cạnh đó, 6-shogaol cũng có độc tính thấp đối với các tế bào bình thường.
Công trình nghiên cứu gốc và link tham khảo:
(Link: https://journals.plos.org/plosone/articleid=10.1371/journal.pone.0054677).

Đặc biệt, shogaol có tác dụng mạnh đối với ung thư vú. Kết quả trong nghiên cứu của các nhà khoa học Ai Cập năm 2020 cho thấy 6-shogaol ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư vú bằng cách kích thích quá trình tự chết tế bào đồng thời ức chế quá trình tăng sinh tế bào thông qua con đường tín hiệu Notch. Notch là con đường tín hiệu quan trọng trong quá trình phát triển và phân lập tế bào trong cơ thể sống. Tuy nhiên, nó cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ung thư. Việc giảm hoạt động của Notch thông qua sự tác động của 6-shogaol đã dẫn đến giảm số lượng tế bào ung thư vú.
Công trình nghiên cứu gốc và link tham khảo:
(Link: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0753332220304947).

Ngoài ra, một nghiên cứu khác của các nhà khoa học Ấn Độ và Nhật Bản năm 2015 cho thấy 6-shogaol hoạt động chống lại sự tăng sinh của tế bào ung thư vú hình cầu ở nồng độ cao hơn 2 hoặc 5 lần so với nồng độ ức chế hiệu quả ở tế bào ung thư vú đơn lớp. Còn đối với Taxol (một loại thuốc dùng rộng rãi trong quá trình hóa trị ung thư vú) mặc dù hoạt động mạnh đối với tế bào ung thư vú đơn lớp nhưng lại không thấy hoạt động chống lại tế bào ung thư vú hình cầu ngay cả khi ở nồng độ cao hơn 10.000 lần so với 6-shogaol. Bên cạnh đó, nồng độ hiệu quả của 6-shogaol cũng an toàn đối với các tế bào không ung thư. Cũng trong bài thử nghiệm này, các nhà khoa học cũng đề cập đến một nghiên cứu khác về độc tính của 6-shogaol trên các tế bào bình thường. Nghiên cứu này thực hiện thông qua đường uống trên người khỏe mạnh, kết quả đều cho thấy không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận. Do đó, hoạt động của 6-shogaol ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư vú vượt trội hơn so với Taxol.
Công trình nghiên cứu gốc và link tham khảo:
(Link: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4565635/).

xem thêm các bài viết khác tìm hiểu về thông tin sản phẩm
DMCA.com Protection Status